Hôm nay, Thứ sáu ngày 30 tháng 10 năm 2020

Kỉ niệm thành lập Nhà xuất bản Tư pháp

Liên kết website

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý

15/09/202

Trong lịch sử phát triển của Nhà nước cách mạng nhân dân, quan niệm về công lý xuất hiện từ rất sớm, ngay từ năm 1945, với tư cách là một giá trị “chính trị - tư pháp”, phản ánh bản chất ưu việt của chế độ mới và mang tính chất định hướng phát triển sâu sắc cho nền tư pháp Việt Nam.
Trong bối cảnh đất nước ta đang tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), thuật ngữ “công lý” được ghi nhận trở lại tại nhiều văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, các Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII. Đặc biệt, trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, công lý đã được thể chế hoá tại Hiến pháp năm 2013 (khoản 3 Điều 102) và các đạo luật tố tụng rường cột của nước nhà như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 1), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 2), Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (Điều 1), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (khoản 1 Điều 2, Điều 67, khoản 3 Điều 76, Điều 85, khoản 3 Điều 89), Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014 (khoản 3 Điều 85) và Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) (Điều 3)...
Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, chuyên sâu và toàn diện về tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý còn chưa nhiều và thiếu tính tập trung.[1] Để có nhận thức đầy đủ hơn về những giá trị cơ bản của công lý trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, tham luận này sẽ tập trung hệ thống, phân tích và làm rõ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý. Theo đó, công lý được khẳng định là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân.
1. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý
Sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh có thể chia thành 05 giai đoạn chính: giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng (1890-1911), giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm (1911-1920), giai đoạn hình thành cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam (1921-1930), giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam (1930-1941) và giai đoạn phát triển và thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh (1941-1969).[2]
Nhận định về nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng có ba nội dung cơ bản, đó là chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa, nhân ái Việt Nam; tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây và chủ nghĩa Mác - Lênin.[3] Một cách khái quát hơn, đồng chí Phạm Văn Đồng nhận định “Hồ Chủ tịch là người “thu góp tinh hoa” của Việt Nam và của thế giới để lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám và sáng lập chế độ dân chủ cộng hòa”.[4]
Quả thật, sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước khi đất nước bị đặt dưới sự nô dịch của thực dân Pháp, Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến thời kỳ khó khăn nhất của các phong trào cứu nước cũng như sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trước nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc. Trên bình diện quốc tế, chủ nghĩa tư bản lúc này đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc và xác lập sự thống trị của chúng trên phạm vi thế giới. Nhận thức được con đường cứu nước của cha anh mặc dù là đáng “khâm phục” nhưng không mang lại kết quả,[5] Nguyễn Tất Thành thấy rằng cần phải trang bị cho mình những hiểu biết sâu sắc về thuộc địa và bản chất chung của chủ nghĩa đế quốc, từ đó tìm ra một con đường cứu nước mới phù hợp với các điều kiện cụ thể của thời đại và dân tộc. Trên con đường bôn ba gần 30 nước, Nguyễn Tất Thành đã có điều kiện tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây, tìm tòi và khảo nghiệm những tư tưởng tự do, dân chủ để từ đó hình thành nên những hiểu biết, niềm tin và tình yêu công lý.
Các nghiên cứu cũng cho rằng trong thời gian ở Trường Quốc học Huế, hấp dẫn nhất đối với Nguyễn Tất Thành là lý tưởng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” của cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Văn minh phương Tây với những thành tựu khoa học kỹ thuật đã khiến người thanh niên này muốn sang các nước phương Tây để tìm hiểu. Người kể “Vào trạc 13 tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe những từ Pháp tự do, bình đẳng, bác ái... Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”.[6]
Có thể nói, trong nền văn minh phương Tây, công lý bắt nguồn từ nhu cầu về một xã hội ổn định, trật tự trên cơ sở tự do, công bằng, chính nghĩa, lẽ phải, lòng nhân ái và phẩm giá cho mỗi con người, mỗi xã hội. Các tư tưởng, học thuyết công lý phương Tây về cơ bản đều tựu chung coi công lý là đạo đức cá nhân, là luân lý xã hội và là cơ chế quản lý xã hội nhằm bảo đảm công bằng trong phân phối, “cho mọi người những gì họ xứng đáng, trao cho mỗi người cái họ đáng hưởng” hay là “nơi toà án sửa chữa lỗi lầm do một bên phạm phải đối với bên khác nhằm khôi phục lại trạng thái cân bằng, nguyên trạng xã hội giữa các bên như trước khi có hành động bất công bằng cách tước đoạt những lợi ích không công bằng có được để bù đắp cho bị hại”.[7]
Công lý là giá trị căn bản của một xã hội văn minh nhằm chấm dứt tình trạng sử dụng “cường lực”, “bạo lực”, “bản năng”, lẽ phải thuộc về kẻ khỏe hơn, mạnh hơn. Chính sự công chính, phân biệt thế nào là công bằng, là lẽ phải đã tạo ra con người tốt hơn về đạo đức, vì vậy, công lý chính là “trật tự của một xã hội chính trị”. Jean-Jacques Rousseau nhận xét về “bước chuyển để trở thành một con người” này như sau: “Sự biến chuyển từ trạng thái thiên nhiên qua trạng thái dân sự mang lại một thay đổi rất lớn lao nơi con người; trong hành xử, công lý thay cho bản năng đã đem đến cho con người giá trị đạo đức chưa từng có. Chỉ lúc ấy, khi tiếng nói của bổn phận thay thế cho các thôi thúc vật chất và lòng ham muốn, thì con người - cho đến bấy giờ hãy còn nghĩ đến bản thân - mới nhận ra mình bị buộc hành động theo những nguyên tắc khác và phải lắng nghe lý trí trước khi làm theo sở thích của mình. Trong tình huống này, tuy anh ta phải hy sinh một vài thuận lợi từ thiên nhiên, nhưng anh ta lại thu được nhiều thuận lợi khác như: khả năng được kích thích và phát triển, ý tưởng được mở rộng, các cảm xúc trở nên cao thượng và tâm hồn được nâng cao…, và, từ một con vật ngu đần, thiếu sáng tạo, anh ta trở thành một sinh vật thông minh, một con người”.[8]
Cũng cần nhấn mạnh, trong mỗi chế độ chính trị, nội hàm công lý sẽ có các nội dung, tính chất và phương thức vận hành khác nhau. Như trong chế độ chính trị Quả đầu (thiểu số, chỉ lo quyền lợi cho dân giàu), công lý sẽ vận hành theo cơ chế “nếu mọi người giàu nghèo khác nhau thì họ sẽ có những quyền khác nhau, những người đóng góp cho nhà nước một đồng không thể có ngang quyền với những người đóng góp một trăm đồng”. Ngược lại, trong chế độ chính trị Dân chủ (chỉ lo cho quyền lợi của dân nghèo), công lý sẽ vận hành theo cơ chế “mọi người sinh ra có quyền bình đẳng, như vậy mọi người đều có quyền ngang nhau.[9]
Ở góc độ đạo đức cá nhân, công lý là phẩm chất có tính giáo dục và phòng ngừa sâu sắc thông qua việc giúp mỗi cá nhân thành viên xã hội hình thành khả năng tự tiết chế và kiểm soát, thúc đẩy “tâm thức thận trọng”, hạn chế “tâm thức liều lĩnh” trong hành vi của mỗi con người. Công lý là mệnh lệnh để ngăn chặn một người chiếm đoạt thứ mà thuộc về người khác hoặc ngăn chặn việc chiếm đoạt những thứ gì thuộc về mình. Chức năng của công lý là tiết chế giữ cho mỗi người khỏi làm những điều ác, có hại cho người khác, không xâm phạm quyền lợi lẫn nhau.
Ở góc độ luân lý xã hội, công lý là đại lượng công bằng để dàn xếp những mâu thuẫn, xung đột không thể tránh khỏi xảy ra giữa các thành viên xã hội, là điểm “quy chiếu” chung của toàn xã hội trong việc phòng ngừa và giải quyết xung đột, duy trì sự hài hòa, ổn định, đồng thuận và gắn kết xã hội.
Ở góc độ cơ chế quản lý xã hội, công lý còn được coi là phẩm hạnh mang “tính đạo lý”, “tính thể chế” và “tính chính trị” nhất của mỗi xã hội. Tính chính đáng, chính nghĩa của một chính quyền thường được đánh giá thông qua việc Nhà nước đó có thừa nhận, bảo vệ và bảo đảm việc thực thi công lý hay không. Ngược lại với mô hình này là sự chuyên chế, cai trị bằng bạo lực và bất công.
Những lý luận về tự do và công lý nêu trên, với các đại biểu ưu tú như Montesquieu (1689-1755), Voltaire (1694-1778), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Thomas Jefferson (1743-1826)…, đã được hấp thụ và phản ánh một cách mạnh mẽ, có hệ thống tại các học thuyết pháp quyền trong trào lưu tư tưởng Khai sáng từ giữa thế kỷ XVIII, thế kỷ chuẩn bị về tư tưởng tiến bộ cho sự hình thành một chế độ xã hội mới thông qua cuộc cách mạng tư sản, điển hình như các cuộc cách mạng tại Mỹ và Pháp. Những tư tưởng tiến bộ này đã có những ảnh hưởng nhất định đến Nguyễn Ái Quốc trong quá trình Người tìm tòi, chắt lọc và khảo nghiệm về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.[10]
Điển hình như trong thời gian ở Mỹ (1912-1913), Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ với những triết lý về “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, về lên án vua Anh chuyên chế bạo ngược khi “ngăn cản việc thực thi công lý” và từ đó “không xứng đáng là người cai trị của một dân tộc tự do...”. Tại Pháp, Người đã tiếp tục đi sâu nghiên cứu những tư tưởng của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 với những nguyên tắc cơ bản của tự do và công lý như “Luật pháp phải thể hiện mong ước chung của cộng đồng”, “Luật pháp phải giống nhau với mọi đối tượng”, “Không ai bị trừng phạt nếu không có một điều luật đã được thành lập và công bố trước khi người đó phạm tội”… Theo TS. Nguyễn Đình Lộc, Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải là sự “bột phát” mà là cả quá trình lâu dài của sự “suy ngẫm”, “khảo nghiệm”, “soát xét” của Người. Những tư tưởng sâu rộng tại Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của nước Pháp đã được Hồ Chủ tịch đánh giá là “bất hủ” và là “những lẽ phải không ai chối cãi được”, để từ đó phát triển lên thành một nhận định khái quát nhất “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và tự do” trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945.[11]
2. Các văn bản, tư liệu tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển. Trong giai đoạn đầu (1911-1920), Người đã thể hiện niềm tin và khát vọng mãnh liệt về một nền công lý đích thực và chân chính cho nhân dân Việt Nam. Trong những giai đoạn tiếp theo (từ năm 1921-1969), Người lên án mạnh mẽ nền công lý thực dân giả tạo, hà khắc, tàn bạo, phi nhân tính của thực dân Pháp tại các nước thuộc địa, từ đó thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân ta, dân tộc ta. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý đã góp phần tạo nên niềm tin của nhân dân vào tính chính đáng, chính nghĩa của chính quyền cách mạng. Khát vọng và tình yêu công lý đó đã tiếp tục được thắp sáng thành ý nguyện của dân tộc ta, của nhân dân ta, góp phần lên án các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, kêu gọi hòa bình, tự do, công bằng và quyền cơ bản của con người, từ đó làm sáng rạng những phẩm giá tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Về mặt tư liệu, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý được sớm hình thành và phát triển từ giai đoạn Người tìm tòi và khảo nghiệm về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam, ngay tại “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Vecxây (1919). Khát vọng về công lý và hòa bình đã tiếp tục phát triển xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng cho đến những năm cuối đời của Người. Hai văn bản sau cùng của Người có đề cập đến công lý là Thư chúc mừng năm mới  (1969) và Thư gửi Hoàng thân Xuphanuvông, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận yêu nước Lào (1969). Về mặt số lượng văn bản, tư liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công lý, theo thống kê có khoảng trên 50 văn bản, tư liệu liên quan, trong đó giai đoạn trước năm 1945, có trên 30 văn bản, tư liệu; giai đoạn sau năm 1945 có trên 20 văn bản, tư liệu.[12]
Về loại hình tác phẩm, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý được thể hiện rất phong phú với nhiều loại hình khác nhau, bao gồm:
- Yêu sách: Yêu sách của nhân dân An nam (năm 1919);
- Văn vần tuyên truyền: Việt Nam yêu cầu ca, An nam nhân dân thỉnh nguyện thư (năm 1919);
- Phát biểu: Lời phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp (năm 1921), Phát biểu tại Phiên họp thứ 25 Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản (năm 1924); 
- Báo chí: Vấn đề dân bản xứ (Báo L’Humanité năm 1919), Kẻ bại trận ở Đông Dương (Báo La Vie Ouvrière năm 1921), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (Báo L’Humanité năm 1922), Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp (Báo Le Paria năm 1922), Thư gửi Khải Định (Báo Le Journal du Peuple năm 1922), Phòng Kiểm duyệt ở Đông Dương (Báo L’Humanité năm 1922), Lời kêu gọi tham gia hội hợp tác xuất bản báo Le Paria (Báo Le Paria năm 1922), Nhân đạo thực dân (Báo Le Paria năm 1922), Về câu chuyện Xiki (Báo Le Paria năm 1922), Những người bản xứ được ưa chuộng (Báo Le Paria năm 1923), Chủ nghĩa quân phiệt thực dân (Báo La vie Ouvrière), Diễn đàn Đông Dương (Báo Le Paria năm 1923), Trò Méclanh (Báo Le Paria năm 1923), Chủ nghĩa đế quốc Pháp dám làm những gì (Tập san Inprekorr năm 1924), Những cái tốt đẹp của nền văn minh Pháp (Tập san Inprekorr năm 1924), Hành hình kiểu Linsơ (Tập san Inprekorr năm 1924), Thống chế Liotây và Bản tuyên ngôn nhân quyền (Tập san Inprekorr năm 1924), Bản án chế độ thực dân Pháp (Tập san Inprekorr năm 1925-1926), Trò đùa dai của Rudơven tiên sinh (Cứu vong nhật báo Trung Quốc năm 1940), Cách mạng tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc (Báo Nhân dân năm 1967);
- Thơ: Nhật ký trong tù viết năm 1942-1943, bài Vấn thoại;
- Thư: Thư ngỏ gửi ông Lêông Ácsimbô (1923); Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ (năm 1945), Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Giêm Biếcnơ (năm 1945), Thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới (năm 1947), Thư gửi tướng Lơcléc (năm 1947), Thư gửi Chính phủ và Nhân dân Pháp (năm 1947), Gửi Chính phủ Pháp đề nghị chấm dứt chiến tranh (năm 1948), Thư gửi nhân dân Pháp sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, Đại diện Cao ủy Pháp Bôlae (năm 1947), Thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc (năm 1948), Thư trả lời một công dân Mỹ (năm 1966), Thư gửi các người bạn Mỹ chống chiến tranh xâm lược của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam (năm 1968), Thư chúc mừng năm mới (năm 1969);
- Điện: Điện văn gửi các ông Ăngđrê Grômưcô - Đại diện Liên Xô, Giêm Biếcnơ - Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Bác sỹ Cố Duy Quân - Đại diện Trung Quốc tại Hội đồng Liên hợp quốc (năm 1946), Điện gửi nhân dân Pháp nhân ngày 19-12-1948, Điện gửi cụ Béctơrăng Rútxen (năm 1966), Điện gửi cụ Béctơrăng Rútxen và ông Giăng Pôn Xáctơ rơ (năm 1967), Điện ủng hộ nước cộng hòa Ả rập thống nhất (năm 1967);   
- Lời kêu gọi: Lời kêu gọi (Báo Le Paria năm 1923), Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ (năm 1945), Lời kêu gọi việc tàu bay địch tàn sát đồng bào Nam Bộ (năm 1946), Lời kêu gọi nhân ngày 20 tháng 7 (Báo Nhân dân năm 1968);
- Diễn văn: Diễn văn đọc trong “Ngày Kháng chiến toàn quốc” (năm 1945), Diễn văn tại Lễ Kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (02/9/1946) tổ chức tại Paris;
- Văn bản pháp lý: Sắc lệnh của Chủ tịch nước số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức các tòa án và các ngạch thẩm phán;
- Huấn thị: Chính phủ là công bộc của dân (Báo Cứu quốc năm 1945).
3. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý
Các nội dung cơ bản của công lý trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: một là, công lý là hiện thân, là giá trị của xã hội văn minh, đối lập với các xã hội ở trạng thái dã man, bán khai; hai là, công lý là lẽ phải, lẽ công bằng mà các tòa án phải bảo vệ và mang lại cho mọi người dân; ba là, quyền được hưởng những giá trị công lý đích thực, chân chính là quyền cơ bản của mỗi quốc gia, dân tộc; bốn là, công lý khẳng định sự hợp thức, hợp pháp, tính chính đáng, chính nghĩa, chính thống của sự ra đời và tồn tại của chính quyền nhân dân; năm là, công lý là căn cứ pháp lý, là điểm tựa đạo lý vững chắc để lên án các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến gian khổ của nhân dân ta; và cuối cùng, công lý được khẳng định là giá trị phổ quát, là lương tri, phẩm giá tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ hướng tới.
Các khía cạnh nêu trên của công lý đã được Hồ Chí Minh vận dụng nhuần nhuyễn trong suốt quá trình hoạt động của Người.
- Bảo đảm công lý đích thực là một trong những quyền cơ bản cần được cải cách ở các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.
Tình yêu và khát vọng về một nền công lý chân chính cho nhân dân Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện ngay tại bản “Yêu sách nhân dân An Nam”, văn bản do Nguyễn Ái Quốc cùng nhóm những người yêu nước An Nam gửi đến trưởng đoàn các nước tham dự Hội nghị Vécxây (Pháp) năm 1919. Đây là một văn bản đánh dấu một bước trưởng thành mạnh mẽ về nhận thức của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình tìm tòi, khảo nghiệm con đường giải phóng dân tộc. Yêu sách thể hiện một niềm tin chân chính rằng tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định phải đến với các dân tộc bị lệ thuộc. Nhân dân An Nam trông cậy vào chính nghĩa và công lý, mong muốn được thừa nhận và hiện thực hóa quyền tự quyết thiêng liêng của dân tộc, bảo đảm cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu.
“Từ ngày Đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc đều chứa chan hy vọng rằng theo những lời cam kết chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc Đồng minh đã tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của Văn minh chống Dã man, thì tiền đồ của một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với họ.
...
2. Cải cách nền pháp lý ở Đông dương bằng cách cho người bản xứ cũng được hưởng những bảo đảm về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;
...
Nhân dân An Nam trông cậy vào chính nghĩa thế giới … và đặc biệt tin vào nhân dân Pháp vì nhân dân Pháp đại biểu cho tự do và công lý”.[13]
Ở thể văn vần, “Việt Nam yêu cầu ca” cũng đặc biệt trân trọng những giá trị đích thực của công lý: “Cậy rằng các nước Đồng minh/Đem gương công lý giết hình dã man”, “Những tòa đặc biệt bất công/Giám xin bỏ dứt rộng dung dân lành”, “Hòa bình may gặp hội này/Tôn sùng công lý, đọa đày dã man”.[14]
Mặc dù sử dụng các biện pháp tuyên truyền, vận động hết sức ôn hòa để yêu cầu các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho dân tộc, cho nhân dân nhưng yêu sách đó đã không được chấp nhận. Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra sự giả dối của chính sách thực dân và rút ra bài học: Để dân tộc được giải phóng, để nhân dân được tự do, cần phải trông cậy vào chính bản thân mình.
Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “Những điều nêu trong Yêu sách đã chứng minh là Người đã chú ý rất sớm đến pháp luật, đến công lý, đến quyền con người” và đây là “một tư tưởng rất đặc sắc của Hồ Chí Minh”.[15] Mặc dù bản Yêu sách còn có những nhược điểm nhất định do nhận thức và điều kiện của không khí chính trị ở Pháp lúc bấy giờ chi phối[16] nhưng theo đánh giá, “Những lời yêu cầu của ông Nguyễn cũng như của các đại biểu các dân tộc bị áp bức khác tuy không có kết quả nhưng nó đã đánh dấu một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc” và Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này chính là “kết quả của những bản yêu cầu gửi cho hội nghị Véc xây mà cụ Hồ đã viết năm 1919…”.[17]
- Công lý là vũ khí đấu tranh sắc bén góp phần vạch trần bản chất phản động của nền cai trị thực dân, qua đó tuyên truyền, giác ngộ, thức tỉnh các dân tộc thuộc địa vùng lên đấu tranh giải phóng tự cứu lấy mình.
Để tố cáo và vạch trần nền công lý giả tạo, hà khắc, phi nhân tính của thực dân Pháp tại các nước thuộc địa, đồng thời tiếp tục thể hiện khát vọng tự do của dân tộc, nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã có hàng loạt bài viết và truyện ký như: “Tâm địa thực dân”, “Vấn đề dân bản xứ”, “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”, “Thư gửi Khải Định”, “Chủ nghĩa quân phiệt thực dân”, “Diễn đàn Đông Dương”, “Cuộc kháng chiến”, “Hành hình kiểu Linsơ”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”… Đồng thời Người cũng mạnh mẽ lên án sự tàn bạo của cái gọi là “công lý Đông Dương” tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp năm 1921 và Phiên họp thứ 25 Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý trong giai đoạn này đã được định hình ngày càng sâu sắc và rõ nét hơn.
Bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra một hình ảnh về một nền công lý giả tạo, một chế độ phi pháp quyền, vô nhân đạo và phản tiến hoá mà người Pháp áp đặt tại Việt Nam. Trong bài viết “Vấn đề dân bản xứ”, Người đã vạch trần nền công lý thuộc địa: “Còn công lý, đối với người bản xứ, nó tồn tại như thế này đây: người Âu nào đã giết chết, tàn sát hoặc cưỡng dâm người bản xứ, thì trong trường hợp vụ án không thể được ỉm hoàn toàn, anh ta chắc mẩm rằng mình được toà án tha bổng, mình ra toà chẳng qua là chuyện hình thức. Đó là việc áp dụng nguyên tắc nhằm bảo tồn bằng mọi cách uy tín của người da trắng trước bọn da vàng”. Người chua chát nhận định: “Ấy là công lý bị bán đứt cho kẻ nào mua đắt nhất, trả giá hời nhất. Xưa kia, người bản xứ bao giờ cũng có thể kêu lên đến tận Triều đình nhà vua; nhưng nay thì anh chàng "annamít" khốn khổ chẳng biết có thánh nhân nào để dựa, và còn lại cho anh ta, chỉ là công lý của Chúa trời”.[18] Trong bài viết “Chủ nghĩa quân phiệt thực dân”, Nguyễn Ái Quốc so sánh sự bất công ngay trong nội tại của nền công lý mẫu quốc và thuộc địa: “Trước hết, chúng ta thấy ngay một sự bất bình đẳng nổi bật: người Pháp chỉ phục vụ trong quân đội hai năm, còn người bản xứ thì phải phục vụ ba năm. Sau khi bỏ ra 36 tháng tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình để bảo vệ tự do và công lý (?), người dân bản xứ được giải ngũ lại chịu sự tác động của đạo luật về người bản xứ trong đó không có tự do và công lý!”.[19]
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc cũng đã thẳng thắn vạch trần bản chất phản động của nền công lý thuộc địa: “Trong vài phút, tôi không thể vạch được hết những sự tàn bạo mà bọn tư bản ăn cướp đã gây ra ở Đông Dương. Nhà tù nhiều hơn trường học, lúc nào cũng mở cửa và chật ních người. Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đều bị bắt và đôi khi bị giết mà không cần xét xử. Cái gọi là công lý Đông Dương là thế đấy!”[20]. Bằng sự phân tích sâu sắc trên cơ sở cứ liệu lịch sử chính xác, Người châm biếm sự giả tạo của nền công lý thuộc địa tại phiên họp thứ 25 Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản ngày 03/7/1924: “Từ năm 1913, mỗi năm nông dân Marốc bị cướp mất 12.500 ha ruộng đất cày cấy. Từ khi Pháp thắng trong cuộc chiến tranh "vì công lý", con số đó tăng lên tới 14.540 ha”.[21]
Tại “Bản án chế độ thực dân Pháp”, bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã dành Chương VIII tiếp tục vạch trần nền công lý thực dân giả tạo: “Ở Đông Dương có hai thứ công lý. Một thứ cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ. Người Pháp thì được xử như ở Pháp. Người An Nam thì không có hội đồng bồi thẩm, cũng không có luật sư người An Nam. Thường thường người ta xử án và tuyên án theo giấy tờ, vắng mặt người bị cáo. Nếu có vụ kiện cáo giữa người An Nam và người Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lý cả mặc dù tên này ăn cướp hay giết người…”.[22] Người mỉa mai nền công lý thuộc địa qua hình ảnh của nữ thần công lý: “Công lý được tượng trưng bằng một người đàn bà dịu hiền, một tay cầm cân, một tay cầm kiếm. Vì đường từ Pháp đến Đông Dương xa quá, xa đến nỗi sang được tới đó thì cán cân đã mất thăng bằng, đĩa cân đã chảy lỏng ra và biến thành những tẩu thuốc phiện hoặc những chai rượu ty, nên người đàn bà tội nghiệp chỉ còn lại độc cái kiếm để chém giết. Bà chém giết đến cả người vô tội, và nhất là người vô tội”.[23]
Có thể nói, qua Bản án chế độ thực dân Pháp, vấn đề “công lý” thuộc địa lừa bịp, giả dối, cùng sự cai trị dã man, tàn tệ, lối đối xử thực dân của lũ quan cai trị thuộc địa đã góp phần dẫn dắt các dân tộc thuộc địa một cách có lý lẽ, đầy thuyết phục rằng: họ chỉ có một con đường tự cứu lấy mình, là thức tỉnh vùng lên đấu tranh giành giải phóng mà thôi.[24] Đây cũng chính là lý do mà tác phẩm này đã trở thành “quyển kinh thánh” của thanh niên Việt Nam trong những năm 20[25] và sau nữa.[26]
Còn theo ông Huy Cận, một trong 15 người ký Bản Tuyên ngôn độc lập,[27] phần kể tội chủ nghĩa thực dân Pháp tại Tuyên ngôn “rõ ràng là tiếp tục cuộc đấu tranh kiên trì, dai dẳng từ bản Yêu sách…” và “…đã từ lâu được chuẩn bị đầy đủ từ Bản án chế độ thực dân”.[28]
Từ việc lên án nền công lý giả tạo của thực dân Pháp tại thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc tiến tới làm rõ bản chất của nền công lý đó. Trong “Diễn đàn Đông Dương”, Người nhận định: “Bao giờ người ta cũng vì uy tín chủng tộc, mà xá tội cho lũ “vô lại khả ố”. Bao giờ người ta cũng nhân danh nhân dân Pháp mà bắt công lý làm đĩ bợm”.[29] Trong bài “Thống chế Liôtay và bản tuyên ngôn nhân quyền”, Người chỉ rõ bản chất méo mó của nền công lý thực dân: “Trong cuộc chiến tranh vì “công lý” - không phải công lý cho Con người và cho Công dân, mà công lý cho bọn Diều hâu và Cá mập…”.[30]
Quay trở lại với dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc bày tỏ lòng tự hào và lòng yêu mến nền văn hiến ngàn năm, mà trong nền văn hiến đó vẫn sáng ngời những giá trị của công lý và luật pháp. Ở nước Việt Nam thời đó, “Luật pháp, cổ phong, tôn giáo, văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hoà hợp với nhau, trải qua bao nhiêu thế kỷ, đã được điều hoà và ngày càng hoàn hảo thêm. Những vết tích man rợ đã mất đi từ lâu, dân tộc này đã sống trong một xã hội thuần thục có tổ chức trong khi những người phương Tây còn ở tình trạng bán khai. Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, coi trọng lời nói thánh hiền, thương yêu nòi giống, tôn kính lẽ phải; ghét xa hoa, không hám tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy sinh; đó là những đức tính răn dạy trong sách thánh hiền, lưu lại trong cổ phong và ghi thành luật pháp; hiện nay đó cũng là những đặc điểm về bản tính của người An Nam hình thành từ bao thế hệ, những thế hệ luôn luôn cố gắng thực hiện đạo đức ấy một cách thành kính”.[31]
Vậy mà khi người Pháp áp đặt ách nô dịch tại Việt Nam thì “Khắp nơi, người ta vi phạm luật lệ của người An Nam, coi thường phong tục, cướp bóc tài sản; mượn cớ đi trấn áp, nên quân lính “được thể” lại tha hồ cướp phá, giết chóc; thú tính xấu xa nhất lại hoành hành; đến cái vẻ công lý cũng không còn" (bài Nước An Nam dưới con mắt người Pháp).[32]
Từ truyền thống đáng tự hào của dân tộc, từ lòng yêu nước thương dân, Nguyễn Ái Quốc đã kêu gọi, giục giã dân tộc, nhân dân đứng lên đòi độc lập, tự do và công lý: “Chúng tôi mong rằng dư luận nước Pháp thông cảm với những nỗi đau khổ của các anh em và sẽ đấu tranh đòi cho Công lý được thực hiện” (Vụ âm mưu ở Đông Dương)[33] hay “Hãy nhìn Triều Tiên, Ai Cập và Ấn Độ, tất cả các nước đó đều đang đứng lên đòi hỏi quyền lợi, công lý và tự do!” (Lời than vãn của Bà Trưng Trắc).[34] Trong “Thư gửi Khải Định”, Người mỉa mai: “Ngài có thấy được nguyện vọng thiết tha mong muốn công lý, tự do và lao động của quần chúng rộng rãi của dân tộc Pháp này không? Ngài có thấy được tình cảm cao cả yêu chuộng hoà bình và hữu nghị đang làm rung động trái tim của quần chúng đó, - số quần chúng mà, qua những cuộc cách mạng giải phóng, giờ đây đã giải phóng mình khỏi ách của bọn vua chúa, để trở thành kẻ tự mình làm chủ mình đó không?”.[35] 
Trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời gian từ ngày 29/8/1942 đến ngày 10/9/1943 là một trong những giai đoạn khó khăn nhất khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ. Trong tù, Người đã viết “Nhật ký trong tù” với 133 bài. Vấn thoại (Hỏi cung) là bài thứ 10 trong tập thơ với tinh thần lạc quan, trào phúng và hóm hỉnh. Nội dung của bài thơ miêu tả vị quan tòa tính không lành mà nói là tính lành, không giả bộ ác mà nói là giả bộ ác, muốn khép tội người mà vờ giả ý ân cần, do tính tráo trở đó, Người kết luận, ở giữa hai cực quan tòa và phạm nhân phải có thần công lý để xét xử:
“Ở giữa hai cực đó,
Công lý đứng làm thần.”[36]
Cũng trong thời gian bị giam giữ, khi bị giải khắp mười ba huyện tỉnh Quảng Tây, phải ở qua 18 nhà lao, rồi đến Phòng chính trị chiến khu IV đóng tại Liễu Tây, một trung tâm chỉ huy quân sự của chính quyền Trung Hoa dân quốc lúc bấy giờ, Người cũng đã quắc mắt chất vấn công lý và lẽ phải:
“Phạm tội gì đây ta thử hỏi,
       Tội trung với nước, với dân à?”[37]
Sau một thời gian dài truyền bá, những giá trị đích thực của công lý đã trở thành một phần quan trọng của ý thức hệ cách mạng. Tình yêu và khát khao công lý của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc được truyền bá đã góp phần quan trọng làm thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, đưa dân tộc, nhân dân Việt Nam đến cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngay trong bài thơ làm công tác binh vận “Là thi sĩ’ năm 1942 của đồng chí Trường Chinh đã khẳng định công lý phải là một phẩm chất cơ bản người chiến sỹ cách mạng:
“Là thi sĩ phải là hồn cao khiết,
Chí kiên cường và sứ mệnh cao siêu
Ca tự do, tiến bộ với tình yêu
Yêu nhân loại, hoà bình và công lý”.
Công lý góp phần khẳng định tính chính đáng, chính nghĩa và hợp pháp cho sự ra đời của chính quyền cách mạng nhân dân.
Mỗi chính quyền, để khẳng định tính chính đáng, chính nghĩa, hợp pháp của mình khi được thành lập và thực hiện quyền cai trị, quản lý một cộng đồng xã hội, đều thông qua Hiến pháp hoặc văn bản có giá trị chính trị - pháp lý để tuyên thệ sứ mệnh gìn giữ và bảo vệ công lý cho mọi thành viên xã hội. Lịch sử dân tộc ta, ẩn sau những văn kiện yêu nước bất hủ về chủ quyền quản lý đất nước như “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, “Hịch ra trận” của Quang Trung đều chất chứa những giá trị nêu trên.
Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc. Có thể nói, “Bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là hợp pháp, Chính phủ lâm thời do người đứng đầu, do cuộc cách mạng của nhân dân lập nên là hợp pháp, hợp công lý”.[38]
Với nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công lý, ngay sau khi thành lập Nhà nước cách mạng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm và coi công lý là vũ khí tư tưởng, chính trị, pháp lý sắc bén góp phần khẳng định tính chính nghĩa, chính đáng, hợp pháp, đồng thời thể hiện sâu sắc và rõ nét bản chất và tư tưởng xây dựng nhà nước thân dân, vì dân.
Điển hình như ngày 19/9/1945, chỉ hơn hai tuần sau khi thành lập Chính phủ lâm thời (28/8/1945), công lý cũng đã xuất hiện trên báo Cứu quốc trong bài huấn thị “Chính phủ là công bộc của dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh Chiến Thắng “Ủy ban nhân dân làng trái với các hội đồng kỳ mục cũ thối nát, sẽ làm những việc có lợi cho dân, không phạm vào công lý, vào tự do của dân chúng. Nó hết sức tránh cuộc bắt bớ đánh đập độc đoán, những cuộc tịch thu tài sản không đúng lý.”[39]
Nghiên cứu lịch sử Nhà nước cách mạng Việt Nam từ năm 1945, trong hệ thống văn bản pháp lý, các giá trị công lý đã xuất hiện rất sớm, ngay tại Sắc lệnh số 13 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 24/01/1946, một trong những văn bản đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành nền tư pháp xét xử của chế độ mới. Điều thứ 47 Sắc lệnh khẳng định “Tòa án Tư pháp độc lập với các cơ quan hành chính. Các cơ quan khác không được can thiệp vào việc Tư pháp” và “Các vị thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý”. Điều thứ 50 Sắc lệnh nhấn mạnh “Mỗi Thẩm phán xử án quyết định theo pháp luật và lương tâm của mình” và “Không quyền lực nào được can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào công việc xử án”. Để đảm bảo sự độc lập, vô tư, khách quan trong xét xử, Điều thứ 75 Sắc lệnh quy định thẩm phán được hưởng những đặc quyền tài phán trong phạm vi nhất định. Điều thứ 110 Sắc lệnh quy định y phục của thẩm phán theo quốc tế, là áo dài đen tay rộng, giải trắng có nếp ở trước ngực, giải đen có lông trắng quàng trên vai bên trái. Đây là kiểu đồng phục đặc biệt giúp các vị quan tòa ý thức được sự độc lập, tách biệt, chỉ tập trung vào công việc chuyên môn, không chịu sự can thiệp, tác động và chi phối từ bên ngoài. Điều thứ 80 Sắc lệnh quy định thẩm phán không được thoái thác nghĩa vụ bảo vệ công lý vì bất cứ lý do gì, trừ trường hợp hồi tỵ và cáo tỵ. Điều thứ 25 Sắc lệnh về nội dung lời tuyên thệ khi các Phụ thẩm nhậm chức tại phiên toà đầu như sau: “Tôi thề trước công lý và nhân dân rằng tôi sẽ suy xét cẩn thận những án đem ra xử, không hề ăn hối lộ, vị nể, vì sợ hãi hay vì tư lợi hay thù oán riêng mà bênh vực hay làm hại một bị can nào. Tôi sẽ cứ công bằng mà xét định mọi việc”. Đây là một tư liệu hết sức có giá trị về lời “tuyên thệ chính trị” của chính quyền nhân dân với nghĩa vụ bảo vệ công lý.
- Công lý là trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất với sự ra đời của nền tư pháp nhân dân.
Công cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất năm 1950 đã đưa lý luận Mác - Lênin với các nguyên tắc về sở hữu nhà nước về các tư liệu sản xuất cơ bản và hoạt động phân phối; loại bỏ không khoan nhượng đối với việc bóc lột giữa người với người và về chính quyền chuyên chính nhân dân vào công tác tư pháp, từng bước xây dựng nền tư pháp nhân dân. Tòa án là nơi thể hiện công lý,[40] do đó, cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất tập trung chủ yếu vào hệ thống tòa án,  với yêu cầu Tòa án là để phục vụ nhân dân, phụng sự nhân dân, phải gần nhân dân, phải “tìm công lý trong nhân dân, của nhân dân”, thông qua hai Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký: Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 cải cách bộ máy Tư pháp và luật Tố tụng và Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật.
Sắc lệnh số 85-SL đã cho ra đời tên gọi Tòa án nhân dân cùng với việc bãi bỏ chế độ phụ thẩm chỉ tham gia ý kiến bằng chế định Hội thẩm nhân dân bắt buộc, ngang quyền và chiếm đa số trong xét xử nhằm biểu đạt về một nền công lý có nội hàm “nhân dân” sâu sắc, đại diện cho đông đảo nhân dân. Bên cạnh đó, thẩm phán chuyên trách không chỉ được tuyển chọn từ những người có trình độ pháp luật mà mở rộng lựa chọn từ hàng ngũ cán bộ công nông. Theo thống kê lúc bấy giờ, sau cải cách có khoảng khoảng 95% số thẩm phán là người xuất thân từ tầng lớp lao động như công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị.[41]
Sắc lệnh số 97-SL yêu cầu công lý xóa bỏ hoàn toàn quyền sở hữu tuyệt đối chủ nợ đối với con nợ trước đây với quy định “những quyền dân sự chỉ được luật bảo vệ khi người ta hành sự nó đúng với quyền lợi của nhân dân”. Bảo vệ công lý là bảo vệ quyền lợi của nhân dân thông qua việc loại bỏ mọi hình thức bóc lột. Do đó, các tòa án nhân dân có thẩm quyền “hủy tiêu khế ước khi một bên lập ước lợi dụng sự chênh lệch về địa vị kinh tế giữa hai bên, sự túng quẫn của người lập ước bên kia mà bóc lột người đó”.
- Công lý là điểm tựa đạo lý vững chắc để lên án các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến gian khổ của nhân dân ta
Từ năm 1946, với dã tâm xâm lược đất nước ta một lần nữa, thực dân Pháp mỗi lúc một điên cuồng lấn tới. Là hiện thân của khát vọng hòa bình Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để tránh một cuộc chiến tranh đổ máu giữa hai dân tộc thông qua việc kêu gọi hòa bình, công lý và nhân phẩm. Tại Diễn văn tại Lễ Kỷ niệm quốc khánh đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa (02/9/1946) tổ chức tại Pari, Người nhấn mạnh: “Chúng ta là hai dân tộc yêu chuộng công lý và tự do, quan tâm đến văn hoá, đến sự nảy nở của những tư tưởng đạo lý. Việc có chung những tình cảm trên làm hài hòa mối quan hệ của chúng ta, lý tưởng và lợi ích của chúng ta, tất cả đều khiến chúng ta xích lại gần nhau”.[42] Trong Thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới (01/1947), Người khẳng định: “Ở Việt Nam cũng như ở Pháp, có rất nhiều người Pháp đàn ông và đàn bà yêu chuộng công lý và tự do”. Trong Thư gửi tướng Lơcléc (01/1947) và Thư Gửi Chính phủ Pháp đề nghị chấm dứt chiến tranh (01/1947), Người thể hiện khát vọng của nhân dân Việt Nam về một nền hòa bình hợp công lý: “Chúng tôi vẫn mong ước hoà bình, một nền hòa bình hợp công lý và xứng đáng đối với nước Pháp cũng như đối với nước Việt Nam”.[43]
Tuy nhiên, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đại diện cho tinh thần yêu nước và đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam đã kêu gọi quốc dân đồng bào quyết tâm giữ gìn nền độc lập non trẻ. Trong Lời Kêu gọi đồng bào Nam Bộ, Người khẳng định: “vì công lý, cuộc kháng chiến tự vệ của dân tộc ta phải toàn thắng”,[44] còn trong Diễn văn đọc trong “Ngày toàn quốc kháng chiến” (05/11/1945), Người kêu gọi: “vì chính nghĩa, công lý của thế giới, vì đất nước giống nòi của Việt Nam, mà toàn quốc đồng bào ta nổi lên tranh đấu quyết giữ vững nền độc lập của ta”.[45] Trong thư gửi nhân dân Pháp sau cuộc hội kiến với Pôn Muýt, Đại diện Cao ủy Pháp Bôlae, Người khẳng định quyết tâm: “Thà chết không làm nô lệ. Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại; chúng tôi sẽ chiến thắng”.[46] Trong Điện gửi nhân dân Pháp nhân ngày 19/12/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích với nhân dân Pháp về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập: “Dân tộc chúng tôi đã chiến đấu “không chút sờn lòng, không điều ân hận” vì chúng tôi chiến đấu cho tự do, cho độc lập, và đối với nhân dân Pháp chúng tôi không thù hằn gì. Chúng tôi đã tỏ rằng chân lý, công lý, lịch sử và tương lai ở về phe chúng tôi”.[47]
Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến, nhân dân Việt Nam không được vì lòng công phẫn mà đi sai con đường chính trị, phải khoan dung và không được rơi vào vòng quay của công lý báo thù. Tại Lời kêu gọi sau việc tàu bay địch tàn sát đồng bào Nam Bộ, với lòng nhân văn sâu sắc, Người kêu gọi nhân dân: “Đối với người Pháp chúng ta phải tỏ rằng: Chúng ta là một dân tộc yêu chuộng hoà bình, công lý, nhân đạo. Gặp hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phải bình tĩnh, giữ trật tự, giữ kỷ luật. Chúng ta phải khoan hồng và bảo vệ tính mệnh, tài sản cho họ”.[48]
- Công lý là giá trị phổ quát, là lương tri, phẩm giá tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ hướng tới, là điểm tựa để lập Mặt trận quốc tế rộng rãi nhất có thể để ủng hộ dân tộc Việt Nam đấu tranh, giải phóng dân tộc.
Ngay từ những năm 1944, để chuẩn bị những nhân tố cơ bản, quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, để đối sách lại chính sách chia rẽ bên trong nội bộ dân tộc cũng như cô lập Việt Nam với các lực lượng cách mạng quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương thành lập Mặt trận đại đoàn kết nhân dân các dân tộc Việt Nam rộng rãi, bao quát nhất, đồng thời lập Mặt trận quốc tế rộng rãi nhất có thể để ủng hộ dân tộc Việt Nam đấu tranh, giải phóng dân tộc. Đây là hai vũ khi sắc bén của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do, giữ nước và xây dựng đất nước của một dân tộc thuộc địa như dân tộc Việt Nam.[49]
Nằm trong sách lược nêu trên, trong các hoạt động vận động quốc tế ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, thông qua các giá trị về công lý, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi quốc tế công nhận nền độc lập của đất nước Việt Nam. Trong Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ (10/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhân dân Việt Nam chỉ đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn và vì sự tôn trọng sự thực và công lý”.[50] Cũng trong Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Giêm Biếcnơ (11/1945), một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân Việt Nam tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ bởi nhân dân Mỹ là những người có “những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế”.[51] Trong Điện văn gửi các ông Ăngđrê Grômưcô - Đại diện Liên Xô, Giêm Biếcnơ - Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Bác sỹ Cố Duy Quân - Đại diện Trung Quốc tại Hội đồng Liên hợp quốc (01/1946), Người bày tỏ “hy vọng vào sự thắng lợi cuối cùng của công lý và hoà bình” tại Việt Nam.[52] Trong Thư gửi Tổng thống hợp chủng quốc Hoa Kỳ (02/1946), Người thiết tha yêu cầu: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi, sau quá nhiều năm chịu sự cướp bóc và tàn phá, mới chỉ đang bắt đầu công cuộc xây dựng. Vì vậy, Việt Nam yêu cầu Hợp chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi”.[53]
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy những giá trị bền vững của công lý để khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Trong Thư trả lời một công dân Mỹ (1966), Người nói: “Nhân dân Mỹ có truyền thống yêu chuộng công lý, tự do và hòa bình. Nhân dân Việt Nam rất quý trọng nhân dân Mỹ, muốn đoàn kết với nhân dân Mỹ đang đấu tranh cho các quyền dân chủ và chống chiến tranh xâm lược Việt Nam”.[54] Còn tại Điện gửi cụ Béctơrăng Rútxen và ông Giăng Pôn Xáctơ rơ (năm 1967), Người khẳng định: “Việc Tòa án quốc tế trịnh trọng lên án những tội ác của bọn xâm lược Mỹ đó sẽ dấy lên sự căm phẫn mạnh mẽ trên thế giới và đẩy mạnh phong trào phản đối của nhân dân các nước đòi Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến tranh đầy tội ác của chúng tại Việt Nam. Sự lên án đó có tầm quan trọng quốc tế về mặt bảo vệ công lý và quyền tự quyết của các dân tộc. Tòa án sẽ góp phần thức tỉnh lương tri của nhân dân các nước…”.[55] Tại Lời kêu gọi nhân ngày 20 tháng 7 (20/7/1968), Người khẳng định: “Nhân dân ta rất yêu chuộng hoà bình nhưng phải có độc lập, tự do thật sự thì mới có hoà bình chân chính. Lập trường của ta rất chính đáng, rõ ràng: ngày nào đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta, chấm dứt ném bom, bắn phá miền Bắc, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để dân ta tự do giải quyết công việc nội bộ của mình, thì ngày đó hoà bình sẽ lập lại ngay. Đó là nguyện vọng của nhân dân ta, mà cũng là nguyện vọng của nhân dân tiến bộ Mỹ và nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới”.[56]
Thư chúc mừng năm mới năm 1969, bài thơ chúc tết cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những nỗi niềm và nhắn gửi, Người nói: “Thay mặt nhân dân cả nước ta, tôi nhiệt liệt chúc mừng và cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bầu bạn và nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã hết lòng ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam”.[57]
4. Thay cho lời kết
Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), Đảng ta đã ghi nhận một cách trân trọng những giá trị mang tính chất nền tảng, định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh tại những văn bản quan trọng nhất của mình là Cương lĩnh và Điều lệ. Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã tiếp tục khẳng định giá trị chân chính của tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.”
Cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta xác định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Nguyên lý này cũng đã được hiến định tại Điều 4 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 4 Hiến pháp năm 2013. Với những ý nghĩa và tầm quan trọng đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về công lý cần được khẳng định là một bộ phận quan trọng, gắn liền với tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân./.
ThS. Nguyễn Xuân Tùng*
 
 

[1] Các công trình nghiên cứu được kể đến bao gồm cuốn “Đây “công lý” của thực dân Pháp ở Đông Dương”, Nxb. Sự thật, năm 1962; bài “Công lý và pháp lý theo tinh thần “Chí công vô tư” của Hồ Chủ tịch” tại Lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Hồ Chủ tịch tại Câu lạc bộ Đoàn kết Hà Nội, ngày 12/5/1970 của đồng chí Vũ Đình Hòe, được xuất bản trong cuốn Hồi ký Vũ Đình Hòe, Nxb. Hội Nhà văn, năm 2004; cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nxb. Chính trị Quốc gia tái bản năm 1975 với Lời giới thiệu của Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn.
[2] Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2011.
[3] Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 1997, tr. 40.
[4] Phạm Văn Đồng: Hồ Chủ tịch - Tinh hoa của dân tộc, lương tâm của thời đại, Nxb. Sự thật, năm 1976, tr. 25.
[5] Bảo tàng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2012, tr. 19.
[6] Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, năm 1986, tr. 11.
[7] David Johnston (2011), A brief history of Justice, (Tóm lược lịch sử về công lý), Nxb. Wiley-Blackwell.
[8] Jean-Jacques Rousseau: Khế ước xã hội (Bản dịch của Giáo sư Dương Văn Hóa), Nxb. Thế giới, năm 2014, tr. 59.
[9] Aristotle, Chính trị luận (Bản dịch của Nông Duy Trường), Nxb. Thế giới, năm 2013, tr. 23.
[10] Mạch Quang Thắng, Nhân cách Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2010, tr. 55.
[11] Bộ Tư pháp, Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Những giá trị và ý nghĩa thời đại, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 1996, tr. 27.
[12] Số liệu thống kê theo nghiên cứu của tác giả.
[13] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 1995, tr. 435-436.
[14] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr.438-439.
[15] Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 1997, tr. 180.
[16] Hùng Thắng, Nguyễn Thành: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, Nxb. Khoa học xã hội, năm 1985, tr. 97.
[17] Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, năm 1984, tr. 33, 34, 114.
[18] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 7-8.
[19] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 174.
[20] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 22.
[21] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 286.
[22] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 420.
[23] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 1995, tr. 91.
[24] Hùng Thắng, Nguyễn Thành: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, Nxb. Khoa học xã hội, năm 1985, tr. 163 -164.
[25] Của thế kỷ XX.
[26]  Vũ Đình Hòe, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên): Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2010, tr. 94.
[27] Gồm: Hồ Chí Minh - Chủ tịch, Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Dương Đức Hiền, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Mạnh Hà, Cù Huy Cận, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Xuân, Vũ Trọng Khánh, Phạm Văn Đồng, Đào Trọng Kim, Vũ Đình Hòe và Lê Văn Hiến.
[28] Bộ Tư pháp: Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Những giá trị và ý nghĩa thời đại, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 1996, tr. 42.
[29] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 188.
[30] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 329.
[31] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 426.
[32] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 426.
[33] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 39.
[34] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 81.
[35] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 102.
[36] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 275-276.
[37] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tlđd, tr. 395.
[38] Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, năm 1997, tr. 182.
[39] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tlđd, tr. 22.
[40] Bộ Tư pháp: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Tư pháp, Nxb. Tư pháp, năm 2005, tr. 96.
[41] Hội Luật gia Việt Nam, Pháp lý phục vụ cách mạng: 1945-1975, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 68.
[42] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tlđd, tr. 284.
[43] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, tlđd, tr. 32-33.
[44] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tlđd, tr. 77.
[45] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tlđd, tr. 90.
[46] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, tlđd, tr. 128.
[47] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, tlđd, tr. 534.
[48] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tlđd, tr. 136.
[49] Hùng Thắng, Nguyễn Thành: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, Nxb. Khoa học xã hội, năm 1985, tr. 267 -270.
[50] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tlđd, tr. 68.
[51] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tlđd, tr. 80.
[52] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tlđd, tr. 156.
[53] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tlđd, tr. 175.
[54] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 12, tlđd, tr. 162.
[55] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 12, tlđd, tr. 262.
[56] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 12, tlđd, tr. 371.
[57] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 12, tlđd, tr. 425.
 
Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Nguồn: moj.gov.vn
Xem thêm »

ĐỐI TÁC LIÊN KẾT